Giải pháp thực hiện gồm bảy nhóm: (1) triển khai các chương trình, dự án bảo đảm đồng bộ, liên kết, thống nhất, không chồng lấn, ưu tiên vốn đầu tư công cho các dự án hạ tầng kỹ thuật quy mô lớn, kết nối các vùng động lực; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương; (2) thu hút đầu tư phát triển - đổi mới chính sách và cách thức thu hút đầu tư nước ngoài với điều kiện, lợi suất ưu đãi phù hợp, định hướng thu hút các thành phần kinh tế ngoài nhà nước có uy tín, công nghệ tiên tiến; (3) phát triển nguồn nhân lực - thu hút và sử dụng hiệu quả tri thức, nguồn nhân lực trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài; (4) bảo đảm an sinh xã hội - bảo đảm sinh kế, chuyển đổi nghề nghiệp bền vững cho người dân bị ảnh hưởng trong vùng dự án, từng bước chuyển đổi nghề cho cộng đồng ven biển; (5) khoa học, công nghệ, môi trường và hợp tác quốc tế - lựa chọn, hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng công nghệ cho các ngành kinh tế biển mới; huy động nguồn lực tài chính quốc tế; (6) bảo đảm nguồn lực tài chính - phân bổ, cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng tăng dần chi đầu tư phát triển; huy động vốn ODA, vốn vay nước ngoài ưu đãi và vốn ngoài ngân sách; (7) bảo đảm quốc phòng, an ninh - kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh trên các vùng ven biển, biển và hải đảo. Về tổ chức thực hiện: Ủy ban chỉ đạo quốc gia về thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là cơ quan điều phối liên ngành, liên địa phương; Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì công bố công khai, xây dựng Cơ chế điều phối liên ngành, xây dựng báo cáo đánh giá thực hiện; Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ và các bộ, cơ quan ngang bộ phân công theo chức năng; UBND các tỉnh, thành phố có biển lập, điều chỉnh quy hoạch tỉnh và tổ chức thực hiện; việc thực hiện được đánh giá hằng năm, 05 năm và báo cáo trước tháng 12 hằng năm.